Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Đau bụng cấp tính và kinh niên

Đau bụng là một trong các triệu chứng

đau bụng dưới

chính trong các bệnh khác nhau. Trong phổ quát trường hợp, ví như Đó là ngắn hạn, nó không hề là tín hiệu của một bệnh lý nghiêm trọng.

sở hữu một số dòng đau bụng.

  • Đau tổng quát (nói chung) sở hữu thể xảy ra ở một nửa bụng hoặc hầu hết. Thường ngày nó dẫn tới rối loàn tiêu hóa, nhiễm trùng con đường ruột gây viêm ruột (viêm ruột non). Trong những trường hợp như vậy, không mang mối doạ dọa nguy hiểm đối mang sức khỏe và điều trị tại nhà mang thể khiến giảm bớt tình trạng này.

Ít phổ thông hơn, cơn đau như vậy chỉ ra 1 căn bệnh nghiêm trọng (ví dụ, tắc nghẽn tuyến đường ruột). Song song, cường độ của nó sở hữu thể nâng cao lên trong vài giờ.

  • Đau cục bộ xảy ra ở một khu vực cụ thể của bụng. Đau cấp tính, đột ngột ở một khu vực thường là triệu chứng của 1 bệnh hiểm nguy, chả hạn như thủng loét bao tử, trong chậm triển khai các nội dung trong khoảng dạ dày đi vào khoang bụng, gây viêm phúc mạc (viêm phúc mạc).
    đau bụng bên trái
    tình trạng của bệnh nhân xấu đi nhanh chóng và cần giải phẫu nguy cấp.
  • những cơn đau co cứng được biểu thị bằng những cơn co giật trong chậm triển khai chúng sở hữu thể nâng cao theo sóng, sau chậm tiến độ suy yếu. Chuột rút xảy ra do tăng co thắt cơ ruột. Thường nhật sau khi xả khí hoặc phân, cường độ của cơn đau giảm. Ở một số phụ nữ, họ được Nhìn vào trong công đoạn kinh nguyệt.

thời kì đau bụng được chia thành cấp tính và mạn tính. Mãn tính kéo dài hơn 3 tháng.

trong khoảng đồng nghĩa tiếng Nga

dạ dày.

từ đồng nghĩa tiếng anh

Đau bụng cấp tính và mạn tính.

đau bụng dưới bên trái

Triệu chứng

mang những bệnh khác nhau của những cơ quan bụng, với thể mang những cơn đau sở hữu thuộc tính sau đây:

  • sắc, cắt;
  • vẽ;
  • ngu ngốc;
  • trầm trọng hơn do ho, đi lại;
  • co cứng;
  • can hệ đến ăn uống ("cơn đói").

các triệu chứng này và những triệu chứng khác có thể đi kèm có cơn đau:

  • chán ăn
  • găng tay, đầy hơi;
  • điểm yếu chung;
  • sốt;
  • đau bụng trái
  • phân và khí chậm trễ;
  • khát
  • một hổ lốn máu trong phân;
  • vàng da của mắt, da;
  • giảm cân.

thông tin chung về bệnh

Đau bụng là 1 triệu chứng tương đối rộng rãi, trong rộng rãi trường hợp ko

đau bên trái bụng

phải là dấu hiệu của một bệnh lý nguy hiểm. Song song, cơn đau dữ dội cấp tính là mô tả của 1 bệnh cần can thiệp phẫu thuật nguy cấp (ví dụ, thủng ruột có thể phát triển trong vòng 6 giờ sau khi vi phạm phân phối máu trục đường ruột).

Trong bệnh lý phẫu thuật cấp tính trong khoang bụng, người ta đã tiêu dùng 1 khái niệm như bụng bụng cấp tính - 1 tập kết các triệu chứng cho thấy 1 bệnh nghiêm trọng (hoặc tổn thương) của những cơ quan bụng, đi kèm với sự kích thích của màng bao phủ những thành bên trong của khoang bụng và các cơ quan nội tạng (phúc mạc). Có đau bụng dữ dội và căng cơ ở thành bụng.

lúc nội dung của đường tiêu hóa xâm nhập vào khoang bụng (ví dụ, trong khi thủng loét dạ dày), máu (bị đổ vỡ những cơ quan nội tạng), các bệnh viêm ( viêm ruột thừa ) và vì một số lý do khác, trạng thái đe dọa tính mệnh với thể tăng trưởng - viêm phúc mạc. Viêm phúc mạc đi kèm với việc phóng thích một lượng lớn chất lỏng và chất điện giải vào khoang bụng , nhiễm độc nghiêm trọng xảy ra, công việc của hệ thống tim mạch, thận và gan bị ngắt quãng. Trong cảnh huống này, điều trị tăng cường là cần thiết, bao gồm phẫu thuật, coi sóc hăng hái tiếp theo.

Tùy thuộc vào nội địa hóa của cơn đau, bệnh lý của một cơ quan nhất quyết sở hữu thể được giả định.

đau bên hông trái

Đau bụng trên bên phải:

  • viêm túi mật;
  • viêm gan;
  • áp xe (hạn chế tàng trữ mủ) của gan;
  • thủng loét tá tràng;
  • trong trường hợp thi thoảng gặp, viêm ruột thừa.

Đau ở bụng trên bên trái:

Đau bụng dưới bên trái:

  • viêm ruột thừa.

Ở bụng dưới bên phải:

  • viêm túi thừa (viêm các phần nhô ra của thành ruột - túi thừa) của đại tràng sigma.

Đau bụng tràn (không sở hữu nội địa hóa rõ ràng):

  • viêm tụy cấp tính;
  • (có thể lớn mạnh mang nhiễm trùng con đường ruột);
  • tắc nghẽn con đường ruột - tắc nghẽn 1 phần hoặc hoàn toàn của lòng ruột,
    đau bụng từng cơn
    dẫn tới sự ngắt quãng của nội dung trục đường ruột; một trong những căn nguyên của nó là khối u ruột.

Đau bụng kinh niên cũng mang thể đi kèm sở hữu những bệnh chức năng của dạ dày, ruột (trong ngừng thi côngĐây không có đổi thay cấu trúc trong những cơ quan). Theo những nhà nghiên cứu, các bệnh tương tự phát triển do sự xáo trộn trong công việc của những bộ phận của hệ thống tâm thần kiểm soát hoạt động của các cơ quan này. 1 Thí dụ về bệnh chức năng là hội chứng ruột kích thích (đau mãn tính, đầy tương đối, táo bón hoặc đi tả sở hữu thể xảy ra), chứng khó tiêu ko loét (đặc trưng bởi cảm giác nóng rát, ợ tương đối, buồn nôn, nặng bụng).

cội nguồn của đau mãn tính có thể là các bệnh kinh niên của các con phố tiêu hóa, khối u và những bệnh lý khác:

đau bụng bên trái là bị gì
  • viêm túi mật mãn tính
  • viêm ruột thừa mạn tính
  • viêm tụy mãn
  • loét dạ dày
  • viêm gan mạn tính
  • ung thư dạ dày, tuyến tụy, ruột
  • viêm loét đại tràng - viêm ruột với sự hình thành các vết loét trên bề mặt bên trong của nó
  • bệnh trào ngược bao tử thực quản - ném nội dung của bao tử vào thực quản.
    đau bụng trái dưới

Trong đau bụng kinh niên, các triệu chứng lo âu sau đây là:

  • sốt
  • giảm cân
  • chán ăn
  • đau dữ dội
  • đốm trong phân, nước tiểu
  • vàng da
  • phù nề
  • đầy tương đối
    đau bụng trái ngang rốn

người nào có nguy cơ?

hàng ngũ rủi ro bao gồm:

  • người mắc bệnh mãn tính con đường tiêu hóa
  • các người có họ hàng gần bị ung thư hệ tiêu hóa
  • người mắc những bệnh bẩm sinh của hệ thống tiêu hóa
  • người lạm dụng thuốc lá, rượu
  • tư nhân tiêu dùng 1 số chiếc thuốc (ví dụ: thuốc chống viêm không steroid)
  • những người thường xuyên gặp phải cảnh huống căng thẳng
    đau bụng bên trái là bệnh gì
  • người ăn uống ko đều

Chẩn đoán

Để thiết lập những duyên do gây đau bụng cấp tính hoặc kinh niên, 1 số nghiên cứu chẩn đoán và xét nghiệm trong phòng thí điểm được buộc phải.

Tùy thuộc vào tình hình lâm sàng, các thí nghiệm này và những xét nghiệm khác sở hữu thể được thực hiện:

  • Xét nghiệm máu tổng quát. Cho phép bạn xác định số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, tiểu cầu, bạch huyết cầu. Trong những quá trình viêm (ví dụ viêm ruột thừa), số lượng bạch huyết cầu trong máu sẽ tăng lên. Giảm chừng độ của các tế bào hồng huyết cầu và huyết sắc tố được Quan sát thấy với thiếu máu, sở hữu thể được gây ra bởi chảy máu trong (ví dụ, mang vỡ vạc của lá lách).
    đau bụng pải dưới
  • Tốc độ lắng của hồng cầu (ESR). Một chỉ số ko đặc hiệu đề đạt mức độ nguy hiểm của những giai đoạn bệnh lý khác nhau trong thân thể, chính yếu với thuộc tính gây viêm. Theo chừng độ tăng ESR, người ta với thể đánh giá tính năng động của công đoạn bệnh lý.
  • Xét nghiệm nước giải có kính hiển vi trầm tích. Nghiên cứu cho phép bạn xác định các thuộc tính căn bản của nước tiểu: màu sắc, mật độ, hàm lượng nước đái của protein, glucose, hồng huyết cầu, bạch cầu và các thành phần khác. Sự hiện diện của các tế bào hồng huyết cầu trong nước tiểu, một hổ lốn muối của urate hoặc oxalate trong trầm tích có thể được ghi nhận với sỏi tiết niệu. Một cơn đau dữ dội ở lưng dưới, bên, bụng dưới) mang bệnh này được gọi là đau bụng.
  • Xét nghiệm máu huyền bí trong phân. Nghiên cứu nhằm xác định chảy máu tối thiểu từ các phòng ban khác nhau của tuyến phố tiêu hóa, mang thể lớn mạnh sở hữu loét bao tử, khối u của tuyến đường tiêu hóa và các bệnh lý khác.
  • Tổng số amylase trong huyết thanh. Amylase là 1 enzyme được sản xuất bởi tuyến tụy. Chức năng của nó là sự phân hủy carbohydrate. Nhận định được tiêu dùng để chẩn đoán những bệnh về tuyến tụy (ví dụ, viêm tụy), trong chậm tiến độ mức độ của enzyme này nâng cao lên. Một trong những triệu chứng của viêm tụy là đau bụng dữ dội.
  • Lipase 1 enzyme được cung cấp bởi những tế bào tuyến tụy. Nó là cần phải có cho sự phân hủy chất béo. Khi những tế bào tuyến tụy bị thương tổn, chừng độ của enzyme này trong máu nâng cao mạnh.
  • Alanine aminotransferase (ALT). Enzyme này được sắm thấy chính yếu trong các tế bào gan. Khi các tế bào gan bị tổn thương, chừng độ của enzyme này trong máu nâng cao mạnh, đây là một mục tiêu chẩn đoán cho các bệnh về gan.
    đau giữa bụng
  • Bilirubin là phổ thông. Bilirubin là 1 sản phẩm phân hủy của huyết sắc tố. Tổng lượng bilirubin là tổng của nồng độ bilirubin trực tiếp và gián tiếp trong máu. Ở gan, axit glucuronic gắn mang bilirubin gián tiếp, và nó trở nên bilirubin liên hiệp (trực tiếp). Sau Đó, bilirubin trực tiếp đi vào cùng mang mật vào ruột. Với tổn thương gan, sự gia tăng tổng số bilirubin do chức năng gan bị suy yếu mang thể xảy ra. Ví như với khó khăn trong việc tiết mật vào tâm địa dày tá tràng (ví dụ, sỏi túi mật), cũng sẽ mang sự gia nâng cao chừng độ của tổng số bilirubin.
  • Bilirubin là trực tiếp. Sự chuyển đổi của bilirubin gián tiếp sang trực tiếp xảy ra ở gan. Có thương tổn tế bào gan (ví dụ, có viêm gan), mức độ bilirubin trực tiếp trong máu tăng lên, vì nó xâm nhập vào máu trong khoảng các tế bào gan bị tổn thương.

Nghiên cứu:

  • dò hỏi X quang khoang bụng. 1 Nghiên cứu đơn giản và đầy đủ thông báo để chẩn đoán một số tình trạng giải phẫu khẩn cấp (tắc ruột, thủng loét). Nó cho phép phát hiện đầy hơi của ruột có tắc nghẽn ruột và sự hiện diện của ko khí trong khoang bụng trong quá trình thủng một cơ quan rỗng (ví dụ, thủng loét dạ dày).
  • Khám siêu âm (siêu âm). Nguyên lý của phương pháp dựa trên các tính chất của siêu âm. Nó cho phép bạn mường tượng những cơ quan nội tạng, xác định thiệt hại của chúng (ví dụ, vỡ thận), khối u, u nang, áp xe và các hình thành bệnh lý khác.
  • Chụp cắt lớp vi tính bản chất của bí quyết là sự truyền tia X qua các mô có mật độ khác nhau, ghi lại thông tin bằng các cảm biến đặc biệt, sau ngừng thi côngĐây là xử lý máy tính của nó. Nhờ vậy, hình ảnh phân lớp phổ quát thông báo của những cơ quan nội tạng thu được, sản xuất hỗ trợ không thể thiếu trong chẩn đoán.
  • Nội soi thực quản. Kiểm tra dạ dày và tá tràng sử dụng máy nội soi linh động, được đồ vật hệ thống quang học, máy ảnh và bộ phương tiện chẩn đoán (ví dụ, sinh thiết) và điều trị (ví dụ, chiếc bỏ polyp). Cho phép bạn mường tượng thành bên trong của bao tử, tá tràng.
  • Nội soi đại tràng Khám nội soi ruột già. Nguyên tắc của cách thức như vậy như nội soi thực quản. Một ống nội soi linh động được đưa vào qua lỗ đít.

Điều trị

Điều trị mang thể được bảo thủ và kịp thời. Trong một số trường hợp, cần phải can thiệp giải phẫu nguy cấp (ví dụ, với tắc ruột, viêm ruột thừa) để cứu sống bệnh nhân.

Phòng chống

những giải pháp ngừa chung được giảm xuống theo các nguyên tắc sau:

  • ăn thường xuyên
  • ăn thực phẩm giàu chất xơ
  • nhai thức ăn tốt
  • uống nhiều nước (khoảng 8 ly nước mỗi ngày)
  • không lạm dụng rượu, hút thuốc
  • đi lại đa dạng hơn, tập thể dục

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Đau ở phía sau thận trái. Đau lưng ở vùng thận: nguyên cớ

đau bên trái bụng Đau ở vùng thận là 1 báo động. Nó được coi là 1 triệu chứng của phổ quát bệnh. Cho nên, nó không thể bị bỏ qua. Chẩn đoán ...