Phạm Long

Lê Quảng Hà

Lê Thiết Cương

Nguyễn Quân

Sonia Kolesnikov-Jessop

SONIA KOLESNIKOV- JESSOP

Theo Tiền Phong

Bùi Như Hương

B.N.H

N.L

Nguyễn Quân

Hoàng Kim Oanh

Shireen Naziree-Nhà nghiên cứu lịch sử và phê bình nghệ thuật

Bùi Như Hương- Trần Hậu Tuấn

Ngô Hương Sen

Trần Thanh

Trần Anh Hùng- Cinéaste/Đạo diễn

Vũ Ngọc Anh- Họa sĩ- Nhà phê bình mỹ thuật

Vũ Ngọc Anh - Họa sĩ- Nhà phê bình nghệ thuật

Ba đời họa sĩ Việt và ký ức chiến tranh
Sonia Kolesnikov-Jessop

Nhật báo Hoa kỳ “Diễn đàn Sứ giả Quốc tế” - International Herald Tribune (Online), 21 Tháng 5, 2008

Tân-gia-ba: Tại Việt Nam, mỹ thuật gắn bó rất mật thiết với nghề thủ công. Cho đến tận năm 1925 - khi Trường Mỹ Thuật Đông Dương được người Pháp lập ra ở Hà Nội người Việt vẫn chưa có một truyền thống hội họa tạo hình thực sự. Ngôi trường thực sự đã mở ra một cánh cửa để hội họa Việt nhanh chóng bươn mạnh bằng cách áp đặt lề thói dạy vẽ-học vẽ hàn lâm trong khi vẫn cố tìm một giọng điệu độc, nhất là gắng bới lật những truyền thống về lụa là cùng sơn mài Việt Nam.

Trong những năm 1950, người Việt chiến đấu để giành độc lập, do vậy ý thức chung của mọi người là khẩn trương tẩy xóa bất kỳ ảnh hưởng mang tính thực dân nào, và thế là tòi ra một dạng chủ nghĩa hiện thực ái quốc na ná thứ chủ nghĩa hiện thực xã hội Xô-Viết, dù rằng về mặt hình tượng thì có bớt chút chủ nghĩa cấu truc (đề cao) và thêm tý lãng mạn.

Vào năm 1976, lúc này Cộng Sản đã kiểm sóat tòan bộ đất nước, nên mỹ thuật trở thành một công cụ tuyên truyền quan trọng để quảng bá quan điểm dân tộc chủ nghĩa. Họa sĩ nào muốn triển lãm thì phải là Hội viên Hội Mỹ thuật. Họ được động viên vẽ về các hình tượng tiêu biểu của giai cấp công nhân và các lãnh tụ. Tranh cởi truồng tuyệt nhiên bị coi là thứ đồi trụy, thể loại chân dung tự họa được châm chước, còn những tranh pháo xu hướng tự biểu hiện thì bị cấm tiệt.

Cuộc triển lãm mang chủ đề “Hậu Đòi Mồi: Hội họa Việt Nam sau 1990” diễn ra từ nay đến 28 tháng Chín tại Bảo tàng nghệ thuật Tân-gia-ba, sẽ là một cuộc khảo vấn những gì đã xảy ra đối với mỹ thuật Việt Nam kể từ khi chính phủ Cộng Sản mở cửa nền kinh tế thị trường với thời kỳ Đòi Mồi, hay các chính sách “cải tổ”.

Interior view of Singapore Art Museum (SAM).

Enter the lift, and open up to the world of contemporary Vietnamese art

“Đối với các nghệ sĩ thị giác, Đòi Mồi có nghĩa là được tự do biểu hiện nhiều hơn”, Joyce Fan – nhà giám tuyển của triển lãm lần này- nói. “Nghệ thuật vị nghệ thuật không còn bị phản đối, và các họa sĩ đã có cơ hội thử nghiệm những thứ khác ngoài chủ nghĩa hiện thực “.

Hình ảnh quá quen thuộc gắn liền với hội họa Việt Nam là những bức tranh mơ mộng theo trường phái hiện thực với các thiếu nữ đội nón trong tà áo dài (y phục truyền thống) hay là những bức tranh vẽ phố cổ Hà Nội nặng mùi lãng mạn. Tuy thế, dù hiện vẫn có thể bắt gặp những loại tranh này trong rất nhiều gallery ở Hà Nội hay Sài Thành, song đó quyết không phải là hình ảnh xác thực về nền hội họa Việt đương thời.

“Nhiều người cứ luôn gắn hội họa Việt Nam với các hình tượng thiếu nữ vận áo dài. Có rất nhiều điều đang xảy ra, và tôi muốn tổ chức cuộc triển lãm này để cho công chúng thấy được những thực tế gì đã xảy đến trong 18 năm qua (trong mỹ thuật Việt Nam)”, Fan nói.

Điểm khởi đầu cho triển lãm mỹ thuật này lấy mốc từ năm 1990, năm được đánh dấu bằng sự khai trương gallery thương mại đầu tiên tại Hà Nội. Fan lưu ý rằng triển lãm mỹ thuật này (tại Tân-gia-ba) sẽ nối khớp các tác phẩm của 3 đời họa sĩ: đời đầu là những người sinh ra trong những năm 1940 và đã trưởng thành khi xảy ra cuộc chiến Việt Nam, đời sau là các họa sĩ được đẻ ra trong những năm 1950 – 1960: họ lớn lên trong thời chiến; và đời chót là các họa sĩ chào đời sau những năm 1970: họ không có bất kỳ trải nghiệm chiến tranh trực tiếp nào.

Không như các họa sĩ đồng nghiệp Trung Hoa với các tác phẩm luôn là những mô tả về đời hoạt động chính trị của Mao Trạch Đông và thứ chủ nghĩa tiêu dùng đang ngày một lạm phát thông qua các tác phẩm theo xu hướng hiện thực giễu nhại và phong cách dân gian hóa chính trị, các họa sĩ Việt thích cách tiếp cận nội tâm nhiều hơn - khi mà cuối cùng họ đã có được một số sự tự do nào đó.

“Cậu phát mệt với thứ nghệ thuật vị chính trị”, họa sử gia - họa sĩ Nguyễn Quân nói vẻ châm chọc. Ông cũng có bức “Tự vẽ dưới nguyệt” (1992) bày ở triển lãm này. “Các họa sĩ đã vứt toẹt thứ chủ nghĩa tập thể với phong cách và chủ đề truyền thống như lãnh tụ hay công- nông-binh, mà thay bằng chim-hoa-cá-gái

“Hậu Đòi Mồi là một thời kỳ phóng giải diễn biểu, nên rất nhiều họa sĩ khóai vẽ chân dung tự họa, vì họ thấy thể loại này biểu lộ bản thân tốt nhất. Các chân dung tự họa cũng cho phép họ chú thuật lại những quan điểm đang đổi thay, hoặc nói về nỗi tiếc nuối một quá khứ đang tan biến nhanh quá,” Fan nói.

Trừu tượng lại là một xu hướng phát triển rầm rĩ khác trong những năm đầu sau thời kỳ Đòi Mồi, bởi vì phong cách này cho phép tự biểu hiện mạnh mẽ hơn, và một số bức trong triển lãm này có thể cho khán giả biết các họa sĩ - tỷ như Bùi Hữu Hùng và Lê Hồng Thái – đã thi triển thể loại này và áp dụng nó vào sơn mài thế nào.

Một trong những chủ đề được khuyến khích tại triển lãm này là “Nhớ lại”, một cuộc kiểm điểm xem các thế hệ họa sĩ khác nhau đã xử lý (khắc phục) những ảnh hưởng của một giai đoạn triến tranh Việt Nam nặng nề ra sao. Những họa sĩ trưởng thành trong chiển tranh thì thường là từng sơ tán về nông thôn, và họ nhớ về thời kỳ này với những khoảng khắc sống tại các làng quê xinh xắn, ví như trong tác phẩm trừu tượng “Dưới nước” (1994) của Trần Lương, trong khi đó những họa sĩ già hơn thì gợi lại những khốn đốn và kinh hồn của cuộc chiến. Đúng vậy, như Fan lưư ý, cách tiếp cận vấn đề thường là cực kỳ tinh láu, như bức “Lòng mẹ” (1994) tả một cụ bà đang cúng bái những người thân yêu ra đi trong các cuộc chiến tranh.

“Heart of Mother” (1994) của Đỗ Sơn

“Bức tranh này cực kỳ thương tâm, vì nếu bạn nhìn vào những bức ảnh của những người thân của bà cụ thì thấy họ mới bảnh làm sao, và bạn có thể nhận ra là họ chết trong hai cuộc chiến khác nhau,” Fan nói, cô muốn nhắc đến cuộc khách chiến chống thực dân Pháp và cuộc triến tranh Việt Nam sau này.

“Một số tác phẩm là hồi ức về chiến tranh, nhưng nó không hiện rành rành trên mặt tác phẩm. Trong rất nhiều bức tôi cảm nhận có rất nhiều sự trữ tình và chất thơ,” Fan nói tiếp.

“Mô tả về quê hương lại là một chủ đề khác của triển lãm lần này, chúng liên quan tới những câu hỏi về danh phận. Trong khi nhiều bức vẽ những đường phố Hà Nội có vẻ cổ lỗ, thì chủ đề triển lãm cũng cho phép các họa sĩ phản ánh những đổi thay của môi trường xã hội và kinh tế”, Fan nói.

Trong tác phẩm sắp đặt gây ấn tượng mạnh “Những hóa thạch sống“ (2006) của Vương Văn Thảo, họa sĩ đã tái tạo những ngôi nhà cổ Hà Nội bằng chất liệu gốm đá rồi phủ lên chúng lớp nhựa thông trong suốt. 36 ngôi nhà được sắp đặt thành bối cảnh một căn phố chạy dài cùng với 36 cọc kim loại (cột điện?) phủ nhựa thông có gắn những chiếc loa phóng thanh phát ra những thông tin phổ biến mà trong những năm 1980 thường hay được phát thanh công cộng.

This installation titled Living Fossils, by Vuong Van Thao, immortalised
36 old shophouses and loudspeakers made in stoneware by encasing them in resin

Mặc dù bây giờ các họa sĩ Việt Nam đã có nhiều tự do hơn nhưng vẫn chưa đủ, điều đó giải thích vì sao hầu hết các tác phẩm đều không can dự tới chính trị.

“Thường hay có sự so sánh giữa Trung Hoa và Việt Nam, nhưng điều này thật khập khiễng”, Nora Taylor - tác giả của một số cuốn sách về nghệ thuật Việt Nam và hiện là giảng viên tại Trường nghệ thuật Chicago nói. “Bạn cần phải xem xét mối quan hệ của người Việt và người Trung Hoa đối với chính trị. Người Việt không có một cuộc cách mạng văn hóa long trời, họ không quá tôn sùng ầm ĩ Hồ Chí Minh và cũng không quá thất vọng với ông, do đó họ không thể sử dụng hình ảnh của ông Hồ, còn người Trung Hoa thì lại cho phép sử dụng hình ảnh của Mao để tuyên truyền rộng rãi không như cách mà chính phủ Việt Nam thường làm. Hình ảnh ông Hồ vẫn là một cấm kỵ”.

“The Dictator” (2003) của Lê Quảng Hà

Trong triển lãm Hậu Đòi Mồi này còn có một số tác phẩm cho thấy các họa sĩ Việt Nam đang cố tháo tung những rào cản về sự phán xét xã hội và chính trị của đất nước. Bức tranh tuyệt đỉnh màu xám “Thằng độc tài” (2003) của Lê Quảng Hà mô tả một gã tám cẳng đang huơ huơ ra phía trước như muốn dọa nạt công chúng, và đỡ nâng sau lưng gã là một guồng máy công nghiệp. Các tác phẩm của Hà thường là sự bình luận về nạn tham nhũng và thói háo danh với những nhân vật phổ biến là nhân viên công lực hay sĩ quan quân đội.

“Có nhiều họa sĩ đang chế các tác phẩm mang tính tung hê chính trị, nhưng họ núp kín lắm (chống đối ngầm), đa phần chỉ chơi thứ nghệ thuật trình diễn (performance art). Tất cả sẽ nhanh chóng đổi thay trong vài năm tới đây. Điều này cho thấy triển lãm này rõ ràng không chỉ điểm lại những gì đã xảy ra trong thời Hậu Đòi Mồi; nó còn phản ánh những gì diễn ra ngoài thời điểm hiện tai”, Taylor kết luận.